24 thg 1, 2019

Kỷ Hợi nói chuyện Sự tích con heo (theo truyện cổ tích Việt Nam)




Ngày xưa có một gia đình nông dân sống rất nhân hậu. Vợ chồng cày sâu cuốc bẫm, tiết kiệm giúp đỡ người nghèo. Họ đã tạo được trâu khỏe, ruộng tốt, cất được 5 gian nhà gỗ lim, vườn cau, ao cá. Cuộc sống tưởng thế đã thanh nhàn. Nhưng oái oăm thay, vợ chồng lại không có mụn con nào. Vợ chồng buồn rầu. Làng xóm chế giễu. Mỗi lần như thế, hai vợ chồng lại tìm thầy tìm thuốc tốn kém vô kể. Một hôm có người mách:
– Ông bà có con phải cầu tự. Nghĩa là phải làm một chuyện gì đó để lại công đức cho thần thánh, cho người đời.
Hai vợ chồng từ đó đêm nào cũng trằn trọc tìm việc làm công đức. Người chồng đề nghị còn bao nhiêu vốn liếng xây dựng một ngôi đền. Người vợ đồng ý và ngay ngày hôm sau ra sông mua gỗ. Ba tháng sau, ngôi đền uy nghi mọc giữa thôn Đoài. Các vị thần: Của cải, Trí tuệ, Sức khỏe, Ăn chơi đã tụ tập về. Ai ước nguyện thế nào thì được thế ấy.

4 thg 2, 2018



                           CON CÚN NHÀ TÔI
                  ( Đăng trong  tạp chí văn nghệ)

           

    Mấy ngày qua, mẹ tôi xin bên hàng xóm một con chó con độ chừng hơn một tháng rưỡi tuổi. Bà tôi đặt tên cho nó là Cún.
    Lại lấy cái lẻ tre đo dài bằng đuôi  chó rồi mang cả chó ra ngoài xa, cặm lẻ xuống đất, bảo lúc nào Cún đi ỉa thì ra chổ bà cặm cái que này nhé. Thả Cún xuống, nó loay hoay hít hít ngưởi ngưởi. thế rồi cu cậu chạng chân ra tè một lúc. Miệng hít hít , cái đuôi ve vẩy, bốn chân bươi dỡn trong có vẽ đắc chí lắm.
   Tôi vừa chạy vào nhà  vừa húyt sáo miệng Cún cũng chạy thục mạng theo. Trong Cún thật vui đáo để. Thế rồi hàng ngày, Đúng ư như Cún biết vâng lời. Hay quá. Lúc nào Cún đau bụng đi ỉa là chạy ra chỗ đó tìm cái lẻ rồi mới tương.
    Cún đực nhanh nhẹn, Tôi sáu tuổi, Cún tháng rưỡi mà trông khôn ngoan hơn tôi nhiều, chạy nhảy suốt ngày. Bộ lông đen mượt như  nhung. Giữa đầu có đám lông trắng chạy thẳng từ sóng mũi lên đến thiên đình, vẽ khuôn mặt ra hai phía đều đặn, trông thật oai vệ. Hai mắt đen lánh. Ban đêm trời tối nhìn tưởng như hai hạt kim cương sáng quắc.  Cái mũi ướt ướt dễ thương quá.

Nhớ xuân

Em đã đưa xuân đi về ngoài đó
Sót lại đây một chút heo may
Đôi tay vắng mơ tìm nơi trú gió
Giọt mưa buồn trên tóc lất phất bay...

17 thg 1, 2018

Tết nguyên đán

Tết Nguyên Đán là lễ hội lớn nhất trong các lễ hội truyền thống của Việt Nam, là điểm giao thời giữa năm cũ và năm mới, giữa một chu kỳ vận hành của đất trời, vạn vật cỏ cây.
Tết Nguyên Đán Việt Nam có ý nhĩa nhân văn vô cùng sâu sắc, thể hiện sự trường tồn cuộc sống, khao khát của con người về sự hài hòa Thiên – Địa – Nhân. Tết Nguyên Đán là sự biểu hiện của mối quan hệ giữa con người với thiên nhiên trong tinh thần văn hóa nông nghiệp; với gia tộc và xóm làng trong tính cộng đồng dân tộc; với niềm tin thiêng liêng, cao cả trong đời sống tâm linh…
Tết Nguyên Đán (hay còn gọi là Tết Cả, Tết Ta, Tết Âm lịch, Tết Cổ truyền, Tết năm mới hay chỉ đơn giản: Tết) là dịp lễ quan trọng nhất trong văn hóa của người Việt Nam và một số các dân tộc chịu ảnh hưởng văn hóa Trung Quốc khác.
Nguồn gốc và ý nghĩa sâu sắc của ngày Tết Nguyên Đán - ảnh 1
Nguyên nghĩa của chữ “Tết” chính là “tiết”. Hai chữ “Nguyên Đán” có gốc chữ Hán; “nguyên” có nghĩa là sự khởi đầu hay sơ khai và “đán” là buổi sáng sớm. Cho nên đọc đúng phiên âm phải là “Tiết Nguyên Đán” (Tết Nguyên Đán được người Trung Quốc ngày nay gọi là Xuân tiết, Tân niên hoặc Nông lịch tân niên).
Do cách tính của âm lịch Việt Nam có khác với Trung Quốc cho nên Tết Nguyên Đán của người Việt Nam không hoàn toàn trùng với Tết của người Trung Quốc và các nước chịu ảnh hưởng bởi văn hóa Trung Quốc khác.
Vì Âm lịch là lịch theo chu kỳ vận hành của mặt trăng nên Tết Nguyên Đán muộn hơn Tết Dương lịch. Do quy luật 3 năm nhuận một tháng của âm lịch nên ngày đầu năm của dịp Tết Nguyên Đán không bao giờ trước ngày 21 tháng 1 Dương lịch và sau ngày 19 tháng 2 Dương lịch mà thường rơi vào khoảng cuối tháng 1 đến giữa tháng 2 Dương lịch. Toàn bộ dịp Tết Nguyên Đán hàng năm thường kéo dài trong khoảng 7 đến 8 ngày cuối năm cũ và 7 ngày đầu năm mới (23 tháng Chạp đến hết ngày 7 tháng Giêng).
Nguồn gốc Tết Nguyên Đán
Nguồn gốc của tết vẫn còn đang được tranh cãi đó, nhưng hầu hết thông tin đều cho rằng ngày tết Nguyễn Đán có nguồn gốc từ Trung Quốc và được du nhập về Việt Nam trong 1000 năm bắc thuộc. Nhưng theo sự tích "Bánh chưng bánh dày" thì người Việt đã ăn tết từ trước thời vua Hùng, nghĩa là trước 1000 năm bắc thuộc.
Nguồn gốc và ý nghĩa sâu sắc của ngày Tết Nguyên Đán - ảnh 2
Có thể thấy tết ở Việt Nam đã có từ rất lâu, trước thời Tam Hoàng Ngũ Đế. Khổng Tử đã viết trong cuốn Kinh Lễ: "Ta không biết Tết là gì, nghe đâu đó là tên của một ngày lễ hội lớn của bọn nguời Man, họ nhảy múa như điên, uống rượu và ăn chơi vào những ngày đó Sách Giao Chỉ Chí cũng có đoạn viết “Bọn người Giao Quận thường tập trung lại từng phường hội nhảy múa hát ca, ăn uống chơi bời trong nhiều ngày để vui mừng một mùa cấy trồng mới,không những chỉ có dân làm nông mà tất cả người nhà của Quan lang, Chúa động cũng đều tham gia lễ hội này". Như vậy có có thể nói Tết Nguyên Đán có nguồn gốc từ Việt Nam.
Tết của hai quốc gia Việt Nam và Trung Quốc có ảnh hưởng lẫn nhau, nhưng vẫn có những đặc trưng riêng của hai quốc gia.
Ý nghĩa sâu sắc của ngày Tết Nguyên Đán đối với người Việt Nam
Tết Nguyên Đán biểu hiện sự giao cảm giữa trời đất và con người với thần linh. Xét ở góc độ mối quan hệ giữa con người và thiên nhiên. Tết – do tiết (thời tiết) thuận theo sự vận hành của vũ trụ, biểu hiện ở sự chu chuyển lần lượt các mùa Xuân, Hạ, Thu, Đông – có một ý nghĩa đặc biệt đối với một xã hội mà nền kinh tế vẫn còn dựa vào nông nghiệp làm chính.
Theo tín ngưỡng dân gian bắt nguồn từ quan niệm “Ơn trời mưa nắng phải thì”, người nông dân còn cho đây là dịp để tưởng nhớ đến các vị thần linh có liên quan đến sự được, mất của mùa màng như thần Đất, thần Mưa, thần Sấm, thần Nước, thần Mặt trời… người nông dân cũng không quên ơn những loài vật, cây cối đã giúp đỡ, nuôi sống họ, từ hạt lúa đến trâu bò, gia súc, gia cầm trong những ngày này.
Nguồn gốc và ý nghĩa sâu sắc của ngày Tết Nguyên Đán - ảnh 3
Người Việt Nam có tục hằng năm mỗi khi Tết đến, dù làm bất cứ nghề gì, ở bất cứ nơi đâu đều mong được trở về sum họp dưới mái ấm gia đình trong 3 ngày Tết, được khấn vái trước bàn thờ tổ tiên, thăm lại ngôi nhà thờ, ngôi mộ, giếng nước, mảnh sân nhà,… được sống lại với những kỷ niệm đầy ắp yêu thương của tuổi thơ yêu dấu. “Về quê ăn Tết”, đó không phải là một khái niệm thông thường đi hay về, mà là một cuộc hành hương về với cội nguồn, nơi chôn rau cắt rốn.
Theo quan niệm của người Việt Nam, ngày Tết đầu xuân là ngày đoàn tụ, đoàn viên, mối quan hệ họ hàng làng xóm được mở rộng ra, ràng buộc lẫn nhau thành đạo lý chung cho cả xã hội: tình cảm gia đình, tình cảm thầy trò, bệnh nhân với thầy thuốc, ông mai bà mối đã từng tác thành đôi lứa, bè bạn cố tri…
Nguồn gốc và ý nghĩa sâu sắc của ngày Tết Nguyên Đán - ảnh 4
Tết cũng là ngày đoàn tụ với cả những người đã mất. Từ bữa cơm tối đêm 30, trước giao thừa, các gia đình đã thắp hương mời hương linh ông bà và tổ tiên và những người thân đã qua đời về ăn cơm, vui Tết với con cháu (cúng gia tiên). Trong mỗi gia đình Việt Nam, bàn thờ gia tiên có một vị trí rất quan trọng. Bàn thờ gia tiên ngày Tết là sự thể hiện lòng tưởng nhớ, kính trọng của người Việt đối với tổ tiên, người thân đã khuất với những mâm ngũ quả được lựa chọn kỹ lưỡng; mâm cỗ với nhiều món ngon hay những món ăn quen thuộc của người đã mất.
Từ đây cho đến hết Tết, khói hương trên bàn thờ gia tiên quyện với không khí thiêng liêng của sự giao hòa vũ trụ làm cho con người trở nên gắn bó với gia đình của mình hơn bao giờ hết. Để sau Tết Nguyên Đán, cuộc sống lại bắt đầu một chu trình mới của một năm. Mọi người trở về với công việc thường nhật của mình, mang theo những tình cảm gia đình đầm ấm có được trong những ngày Tết để hướng đến những niềm vui trong cuộc sống và những thành công mới trong tương lai.

Tết là ngày đầu tiên trong năm mới, mọi người có cơ hội ngồi ôn lại việc cũ và “làm mới” mọi việc. Việc làm mới có thể được bắt đầu về hình thức như dọn dẹp, quét vôi, sơn sửa trang trí lại nhà cửa. Sàn nhà được chùi rửa, chân nến và lư hương được đánh bóng. Bàn ghế tủ giường được lau chùi sạch sẻ. Người lớn cũng như trẻ con đều tắm rửa và mặc quần áo mới. Đây cũng là dịp mọi người làm mới lại về phần tình cảm và tinh thần để mối liên hệ với người thân được gắn bó hơn, tinh thần thoải mái, tươi vui hơn… Bao nhiêu mối nợ nần đều được thanh toán trước khi bước qua năm mới. Với mỗi người, những buồn phiền, cãi vã được dẹp qua một bên. Tối thiểu ba ngày Tết, mọi người cười hòa với nhau, nói năng từ tốn, lịch sự để mong suốt năm sắp tới mối quan hệ được tốt đẹp.
Nguồn gốc và ý nghĩa sâu sắc của ngày Tết Nguyên Đán - ảnh 6
Người Việt Nam tin rằng những ngày Tết vui vẻ đầu năm báo hiệu một năm mới tốt đẹp sẽ tới. Năm cũ đi qua mang theo những điều không may mắn và năm mới bắt đầu mang đến cho mọi người niềm tin lạc quan vào cuộc sống. Nếu năm cũ khá may mắn, thì sự may mắn sẽ kéo dài qua năm sau.Với ý nghĩa này, Tết còn là ngày của lạc quan và hy vọng.
Tết là sinh nhật của tất cả mọi người, ai cũng thêm một tuổi vì thế câu nói mở miệng khi gặp nhau là mừng nhau thêm một tuổi. Người lớn có tục mừng tuổi cho trẻ nhỏ và các cụ già để chúc các cháu hay ăn chóng lớn và ngoan ngoãn, học giỏi; còn các cụ thì sống lâu và mạnh khoẻ để con cháu được báo hiếu và hưởng ân phúc.
Người Việt chọn ngày Tết làm cơ hội để tạ ơn. Con cái tạ ơn cha mẹ, cha mẹ tạ ơn ông bà, tổ tiên, nhân viên tạ ơn cấp chỉ huy. Ngược lại, lãnh đạo cũng cảm ơn nhân viên qua những buổi tiệc chiêu đãi hoặc quà thưởng để ăn Tết…
B.M

16 thg 1, 2018

Chó

(Bách khoa toàn thư mở Wikipedia)
Chó là loài động vật nuôi đầu tiên được con người thuần hóa cách đây 15.000 năm vào cuối Kỷ băng hà.[1] Tổ tiên của loài chó là chó sói. Loài vật này được sử dụng để giữ nhà hoặc làm thú chơi. Trong các từ ghép Hán Việt chó được gọi là "cẩu" (狗) hoặc "khuyển" (犬). Chó con được gọi là "cún". Vì chó trông giống con cầy nên chó còn được gọi là "cầy". Họ chó có tên khoa học là Canidae (tiếng Latinh canis có nghĩa là chó) gồm khoảng 37 loài: chó sói, chó sacan, cáochó rừng và các giống chó nhà. Tất cả các thành viên trong họ chó đều là loài ăn thịt và thích nghi đặc biệt để săn mồi. Răng của chúng dùng để giết mồi, nhai thịt và gặm thịt, thỉnh thoảng để cắn nhau.
Các giác quan như thị giác, thính giác và khứu giác phát triển mạnh: Chó có mắt to, tai dựng và mũi nhạy, nhờ đó chúng có thể theo dấu con mồi thành công, dù là săn đơn độc hay theo bầy.Tất cả các loài chó trừ chó bụi rậm Nam Mỹ đều có chân dài thích nghi với chạy nhanh khi săn đuổi mồi. Chó là loài "đi bằng đầu ngón chân" và có các bàn chân đặc trưng, năm ngón ở chân trước và bốn ngón ở chân sau. Đôi khi có trường hợp chó nhà có năm ngón ở chân sau (móng thứ năm gọi là móng huyền). Chó rừng có đuôi dài, lông dày, thường đồng màu và không có đốm sọc.
Tổ tiên của loài chó bao gồm cả cáo và chó sói là một loài động vật có vú gần giống như chồn sinh sống ở các hốc cây vào khoảng 400 triệu năm trước. Còn loài chó như chúng ta thấy ngày nay được tiến hóa từ một loài chó nhỏ, màu xám. Vào cuối kỳ Băng hà, cách đây khoảng 40.000 năm, chó sói và người chung sống với nhau thành nhóm săn mồi theo bầy. Chó sói và người thường tranh nhau con mồi, thậm chí còn giết nhau. Nhưng hẳn là chó sói đã bắt đầu tìm bới những mẩu thức ăn thừa do con người bỏ lại. Con người đã thuần hóa chó sói con và qua lai giống nhiều thế hệ, chó sói tiến hóa thành chó nhà.

Năm Mậu tuất nói về thịt chó

Thịt chó có phải món ăn truyền thống của người Việt ?

thit cho 2.png
Tôn Thất Thọ

Trong tập sách Món ngon Hà Nội, khi đề cập món thịt chó, nhà văn Vũ Bằng đã viết:
       “Ngả con cầy ra đánh chén! “Sống ở trên đời, ăn miếng dồi chó, chết xuống âm phủ biết có hay không?”.
     Thôi thì được ngày nào hãy cứ biết chiều ông thần khẩu ngày ấy đã, sau ra sao sẽ liệu. Ấy thế mà chưa biết chừng ăn một bữa cầy vào, cái vận mình nó lại chuyển hung thành cát, chuyển đen thành đỏ thì lại càng hay, chớ có sao đâu?
   Thật vậy, thịt cầy ở nước ta không phải là một món ăn như thịt dê, thịt lợn, nhưng nó lại còn là một niềm tin tưởng trong dân gian nữa.
    Vận đương xúi quẩy, ăn một bữa thịt chó vào, người ta rất có hy vọng giải đen. Đánh bạc thua liền ba đêm, này! Ăn một bữa thịt chó, có người gỡ lại hết cả tiền thua, mà lại còn được thêm là khác. Thử hỏi trong tất cả các món ăn trên thế giới có món ăn nào khả dĩ lại di chuyển được vận hạn của con người đến thế hay không?
     Nhưng dẫu sao, chuyện di chuyển vận hạn cũng là chuyện của tương lai huyền bí. Nói ngay chuyện thiết thực ở trước mắt mà chơi.” 
            Trên website MonngonHanoi.com, một bài viết có đoạn với nội dung tương tự: 
      “Trước tiên đó là thói quen “giải đen” cuối tháng bằng thịt chó. Người Việt kiêng không bao giờ ăn thịt chó vào ngày đầu năm, đầu tháng, song họ tin rằng ăn thịt chó vào những ngày cuối năm, cuối tháng lại có thể xua đi vận đen đủi, “rửa sạch” rủi ro để bước sang năm mới may mắn hơn. Sang đến đầu tháng người ta thường ăn những món ăn như tiết canh với màu đỏ của huyết hi vọng cả tháng sẽ gặp nhiều điềm lành.

6 thg 12, 2017

Những điều độc đáo về ngày Giáng sinh trên thế giới

Lễ Giáng sinh, còn được gọi là lễ Thiên Chúa giáng sinh, Noel, Christmas hay Xmas (từ tiếng Pháp Noel, là viết tắt từ gốc Emmanuel, nghĩa là "Thiên Chúa ở cùng chúng ta") là lễ kỷ niệm ngày Chúa Jesus thành Nazareth ra đời của phần lớn người Cơ Đốc giáo.
Vào dịp lễ, các nhà thờ được trang hoàng lộng lẫy với đèn, ngôi sao, hoa và hang đá biểu tượng cho nơi Thiên Chúa sinh ra tại Bethlehem và đều có buổi lễ đặc biệt đón mừng ngày sinh của Chúa.
Trong đêm giáng sinh thì có ông già Noel ngồi trên chiếc xe trượt tuyết do tuần lộc kéo, đi khắp nơi tặng quà trẻ em. Những món quà được ông già Noel bỏ vào những chiếc tất treo đầu giường và sáng hôm sau, khi thức dậy, trẻ em rất sung sướng khi được nhận quà.
Giáng sinh năm nay đang đến rất gần với tất cả mọi người trên khắp hành tinh này và tại mỗi quốc gia, khu vực đều có cách đón Giáng sinh theo nét văn hóa truyền thống riêng của mình.
Ý:
Những điều độc đáo về ngày Giáng sinh trên thế giới - 1
Theo tục lệ truyền thống, vào đêm sau ngày lễ Noel, không phải ông già Noel mà là bà già Noel tên là Strega Buffana sẽ đến thăm trẻ em. Truyền thuyết kể rằng bà Noel là một bà lão cau có, mặc áo choàng đen, ăn vận giống phù thủy. Nhưng dù mang vẻ bề ngoài là một hình ảnh bà già cau có, bẩn thỉu, Strega Buffana mang cả hai tính cách: tốt bụng và xấu tính. Bà bay quanh nước Italia trên một cây chổi và tặng đồ chơi, kẹo, trái cây cho những trẻ em ngoan, đồng thời cũng phạt những đứa trẻ không ngoan.
Australia:
Những điều độc đáo về ngày Giáng sinh trên thế giới - 2
Xe trượt tuyết của ông già Noel được kéo bởi tám con kangaroo trắng. Một trong những sự kiện nổi bật không thể thiếu trong những ngày này là “Đêm đốt nến hát Thánh Ca mùa Giáng sinh” (Carols By Candlelight).
Sự kiện này bắt nguồn từ thành phố Melbourne vào năm 1937 và được duy trì cho đến ngày nay. Hàng ngàn người tụ tập cùng hát vang những bài Thánh Ca với ngọn nến trong tay, truyền đi thông điệp “hòa bình trên khắp trái đất và niềm vui đến mọi nhà.” Ngày Giáng sinh ở Australia còn là ngày truyền thống của việc tặng quà và các sự kiện thể thao diễn ra như thi bóng chày và đua thuyền buồm.
Ấn Độ - cây chuối Noel:
Những điều độc đáo về ngày Giáng sinh trên thế giới - 3
Tại Ấn Độ, chỉ khoảng 2.3% dân số theo đạo Thiên chúa, nhưng bởi dân số hơn 1 tỉ người nên số người theo đạo lên tới 25 triệu. Cũng như mọi nơi khác trên thế giới, Giáng sinh là thời gian sum vầy và tặng quà nhưng chỉ có điều người Ấn Độ không trang trí cây thông. Thay vào đó, họ trang trí cây chuối hoặc xoài.
Điều đó có nghĩa là vào dịp Giáng sinh, bạn sẽ thấy trên đường phố các cây xoài và chuối được trang trí rực rỡ. Người dân thậm chí còn sử dụng lá của những cây này để trang trí nhà của họ.
Ukraina - Giáng sinh nhện:
Những điều độc đáo về ngày Giáng sinh trên thế giới - 4
Người Ukraina trang trí cây Giáng sinh của mình với những chú nhện và mạng nhện giả. Họ tin rằng chú nhện giăng tơ trên cây thông Giáng sinh vào ban đêm và ánh sáng ban ngày sẽ biến mạng nhện thành bạc. Việc tìm thấy một chú nhện sống vào sáng Giáng sinh được coi là may mắn.
Venezuela:
Những điều độc đáo về ngày Giáng sinh trên thế giới - 5
Vào đêm Giáng sinh, các đường phố của Caracas, Venezuela sẽ cấm xe cộ đi lại để mọi người có thể trượt pa-tin hoặc trượt ván tới nhà thờ.
Arizona:
Những điều độc đáo về ngày Giáng sinh trên thế giới - 6
Hàng năm, Câu lạc bộ súng Scottsdale tổ chức đêm hội “Ông già Noel và Súng”. Đây là dịp các gia đình có thể chụp ảnh với ông già Noel và khẩu súng AK-47.
Tây Ban Nha
Những điều độc đáo về ngày Giáng sinh trên thế giới - 7
Trước Giáng sinh, người dân tại Catalonia (Tây Ban Nha) sẽ trang trí một khúc gỗ nhỏ như một nhân vật hoạt hình với chiếc mũ xinh xắn và miệng cười thật tươi. “Khúc gỗ” sinh động này xuất hiện trong mỗi gia đình vào khoảng hai tuần trước lễ Giáng sinh và được chăm sóc một cách đặc biệt với khẩu phần ăn hàng ngày, gồm bánh kẹo và hoa quả. Vào đêm Giáng sinh, các thành viên trong gia đình sẽ dùng chiếc gậy đánh vào nhân vật bằng gỗ này và cùng nhau ngân nga bài hát mừng Giáng sinh truyền thống.
Áo – Đức – Noel quỷ đáng sợ:
Những điều độc đáo về ngày Giáng sinh trên thế giới - 8
Krampus được coi là ông già Noel của trẻ em Áo, Đức và nó theo đúng nghĩa đen là một con quỷ. Trẻ em Áo, Đức được bố mẹ kể rằng nếu chúng nghịch ngợm thì quỷ Krampus sẽ bắt chúng xuống địa ngục vào đêm Giáng sinh. Còn nếu trẻ em ngoan, Krampus sẽ đối xử tốt.
Nam Phi:
Những điều độc đáo về ngày Giáng sinh trên thế giới - 9
Tại Nam Phi, trẻ em được kể câu chuyện về Danny - cậu bé bị bà mình giết chết vì ăn kẹo dành cho ông già Noel.
Mỹ:
Những điều độc đáo về ngày Giáng sinh trên thế giới - 10
Người dân Mỹ có truyền thống mặc đồ ông già Noel rồi cùng nhau uống say bí tỉ mỗi dịp Giáng sinh.
Slovakia:
Những điều độc đáo về ngày Giáng sinh trên thế giới - 11
Tại Slovakia, trong đêm Giáng sinh người đàn ông lớn tuổi nhất gia đình sẽ múc một thìa bánh pudding loska rồi hất nó lên trần nhà. Miếng bánh pudding này càng dính chặt trên trần thì gia đình sẽ càng nhận được nhiều may mắn trong năm mới.
Nhật Bản:
Những điều độc đáo về ngày Giáng sinh trên thế giới - 12
Người Nhật Bản sử dụng thiệp Giáng sinh màu trắng thay vì màu đỏ, do màu đỏ là màu truyền thống sử dụng cho thiệp mời đám tang.
Canada:
Những điều độc đáo về ngày Giáng sinh trên thế giới - 13
Theo Bưu điện Canada, địa chỉ của ông già Noel là Ông già Noel Bắc cực, Canada. Bất kỳ bức thư nào gửi tới địa chỉ trên sẽ được mở ra và hồi đáp bởi các nhân viên bưu điện.
Theo Ngọc Trâm (Một thế giới)

4 thg 12, 2017

NGUỒN GỐC VÀ Ý NGHĨA HANG ĐÁ BÊ-LEM

I.     Nguồn gốc Hang đá
Ai là người đã trưng bày Hang đá đầu tiên? Đó là một khám phá tuyệt vời của thánh Phanxicô thành Assisi. Theo tác giả Omer Englebert kể: vào năm 1223, chỉ còn đúng 2 tuần lễ nữa là đến ngày mừng lễ Chúa Giáng sinh, Phanxicô Assisi lúc đó đang trên đường từ Rôma trở về làng Assisi, quê hương của Ngài; khi đi ngang qua làng Greccio thì Phanxicô gặp một thày tên là Jean Velita, thày này mới tập tu, Phanxicô liền ngỏ lời với thày ấy rằng : “Ta mong ước cử hành lễ Giáng sinh để suy tôn Chúa ra đời ở Bê-Lem, nhưng để thể hiện nỗi cơ cực và khổ đau của Chúa ngay từ lúc còn thơ để cứu chuộc nhân loại, Ta xin con làm một hang đá giống như thật với cỏ khô, rồi con dẫn một con lừa và một con bò vào để cho giống với con bò con lừa đã chầu quanh Chúa Hài đồng năm xưa nhé’’.  Thế là thày vâng lời, đi làm một hang đá giống như lời Phanxicô dặn.
Còn Phanxicô, sau khi công bố Tin Mừng xong, ngài chia sẻ lời Chúa cho những người đến nghe. Ngài kể chuyện sự tích về một vị ‘‘Hoàng đế nghèo’’ sống trước ngài 12 thế kỷ, được sinh ra tại Bê-Lem mà người ta thường gọi Ngài là Giêsu, tức “Hài đồng Bê-Lem”.  Giảng xong, Phanxicô giả bắt chước giọng của con chiên, con lừa kêu “Bethlélem! Bethélem!!!’’, tức thì người ta liền thấy Hài nhi Giêsu đang ngủ trong hang đá chợt thức giấc và nhoẻn miệng cười.
Kể từ máng cỏ đầu tiên tại Greccio, sau đó hàng năm, tại các giáo xứ và nhà nhà khắp nơi trên thế giới, người ta bắt đầu làm Hang đá với cây thông để mừng lễ Chúa Giáng sinh.
II.  Ý nghĩa của các hình tượng
Về các tượng được trưng bày trong Hang đá, mỗi tượng đều có một ý nghĩa tượng trưng riêng biệt:
1)     Chúa Hài Đồng
Là tượng nhỏ nhất trong Hang đá.  Tuy là tượng nhỏ nhất nhưng lại là trung tâm của Hang đá, được đặt trong một cái máng ăn của loài vật lót đầy cỏ khô. Chúa Hài Đồng được quấn bằng một chiếc khăn màu trắng.
Chiếc máng ăn của chiên bò và nắm cỏ khô lót trên đó tượng trưng cho sự nghèo hèn tột độ của Chúa.  Ngài nghèo đến độ chẳng có gì là tài sản của mình. Còn chiếc khăn trắng quấn Chúa Hài Nhi Giêsu là dấu hiệu báo trước chiếc khăn sẽ liệm xác Ngài sau khi Ngài chết trên núi sọ vì tội lỗi của nhân loại.
2)     Mẹ Maria
Từ năm 1400, tượng Mẹ Maria mới được trưng bày trong Hang đá như một người đang chìm sâu trong sự thờ lạy, yêu mến và suy ngắm mầu nhiệm Giáng sinh của Chúa Cứu Thế. Tuy vậy, khuôn mặt của Mẹ Maria cũng không thiếu những băn khoăn, những lo âu như của bao người mẹ khác khi sinh đứa con đầu lòng cùng với những vui - buồn lẫn lộn. Như suy nghĩ về con trẻ sẽ lớn lên thế nào? Nó sẽ sống ra sao trong một thế giới thiếu tình người, ích kỷ, hận thù, ghen ghét?....  Tuy băn khoăn lo lắng, nhưng Mẹ không bao giờ thất vọng trước tình thương quan phòng của Thiên Chúa. Mẹ hoàn toàn tín thác tất cả cho Đấng đã tin tưởng Mẹ.
3)     Thánh Giuse
Thánh Giuse thường mang một chiếc áo choàng rộng, tượng trưng cho sứ mệnh cao cả nhưng đầy khó khăn mà Thiên Chúa Cha đã giao phó cho thánh nhân: Đó là sứ vụ bảo vệ Con Một của Người là Chúa Giêsu, Đấng Cứu độ nhân loại và Đức Trinh Nữ Maria, Mẹ của Người.
Chiếc đèn thắp sáng mà thánh Giuse cầm trong tay nói lên sứ mạng chăm sóc và gìn giữ Hài Đồng Giêsu. Tượng thánh Giuse được đặt đứng ở phía bên tay phải, bên cạnh các con bò đang chiêm ngắm Chúa Hài Đồng với vẻ mặt vui sướng và tin tưởng.
4)     Các Thiên Thần
Vào đêm Chúa giáng sinh trong hang chiên lừa xa xôi hẻo lánh, thiếu bóng người qua lại thăm viếng, nhưng ca đoàn các Thiên Thần từ trời cao xuất hiện thờ lạy và ca hát mừng Chúa Hài Đồng với những điệu nhạc du dương huyền diệu: «Gloria in excelsis Deo», “Vinh danh Thiên Chúa trên trời, bình an dưới thế cho loài người Chúa thương”. Chính các Thiên Thần là những vị đi báo tin cho các mục đồng đang ngủ ngoài đồng một tin vui: “Hôm nay, Đấng cứu độ đã sinh ra cho loài người”.
5)     Các Mục đồng
Các mục đồng với nét mặt vô cùng vui mừng và ngạc nhiên chiêm ngắm Hài Nhi Giêsu mới sinh đặt nằm trong máng cỏ. Họ biểu tượng cho từng lớp người nghèo mà Thiên Chúa đặc biệt quan tâm ưu ái. Họ cũng là đối tượng được Chúa Cứu Thế yêu thương, bảo vệ và đề cao, vì họ sẽ được “Nước Trời là của họ”. Con Thiên Chúa đã muốn trở nên một trong những người bé nhỏ như họ, sinh ra trong cảnh nghèo hèn và khiêm tốn. Người còn tự đồng hóa với họ khi tuyên bố: «mỗi lần các ngươi làm như thế cho những kẻ bé mọn nhất của ta đây, là các ngươi đã làm cho chính Ta» (Mt 25,40).
6)     Các con bò và lừa
Các loài vật là «các bầy tôi» dễ thương phục dịch cho Chúa Giêsu Hài Đồng ngay từ giờ phút đầu tiên khi Người cất tiếng chào đời. Những con bò tượng trưng cho người Do-thái đang phải gồng mình dưới sức nặng của luật pháp, nhưng đồng thời cũng tượng trưng cho sức mạnh và quyền lực. Còn những con lừa tượng trưng cho dân ngoại mang thân phận loài vật chuyên chở trên mình bao gánh nặng tội lỗi, trong đó gánh nặng nề nhất là tội không nhìn nhận Thiên Chúa là Đấng Tối Cao duy nhất và là Tạo Hoá của muôn loài. Đồng thời những con lừa cũng tượng trưng cho sự lao công và sự thờ tự. Sự hiện diện của những con bò và lừa trong Hang đá Bê-lem muốn diễn tả ý nghĩa: Đức Kitô đã gánh mọi tội lỗi nhân loại, và sau cùng Ngài hiến tế chính bản thân Ngài làm của lễ đền tội cho nhân loại.
7)     Ba Vua
Nghe tin Đấng Cứu Thế đã sinh ra, ba nhà đạo sĩ từ Phương Đông đến để triều bái và dâng tiến Hài Nhi những lễ vật. Những nhân vật đó là:
• Melchior : quì gối dâng lên Chúa vàng, tượng trưng cho quyền lực và sự giàu sang. Ông là người Âu Châu.
• Balthasar : đứng ôm trên tay bình đựng nhũ hương, tượng trưng của lễ hiến tế và sự cầu nguyện. Ông là người Á Châu.
• Caspar : là vị đạo sĩ trẻ nhất, đứng sau hai vị kia và ôm trên tay bình đựng mộc dược, tượng trưng cho sự đau khổ và sự chết. Ông là người gốc Phi Châu với nước da đen sậm.
Ngoài ra, còn có một vị vua thứ bốn tên là Artaban, ông là người ít được nhắc đến và được trưng bày trong Hang đá, tượng trưng bằng viên đá quý.
8)     Các hình tượng khác
Tuỳ theo quan niệm văn hóa và sở thích của mỗi nơi, mỗi miền mà người ta trưng bày trong Hang đá những tượng khác nữa; mặc dù trên thực tế, những tượng đó không có chỗ đứng chính thức và quen thuộc trong Hang đá, nhưng mỗi tượng cũng mang một ý nghĩa tượng trưng, sâu sắc. Chẳng hạn, tượng bác nông phu đang cầm cày, tượng trưng cảnh thiên nhiên chốn thiên đàng trong Đêm Giáng Sinh. Bác tiều phu, tượng trưng cho người quản trị những mầu nhiệm nguyên thuỷ của nhân loại, mà ngày nay trong thời đại kỹ thuật đã bị đào thải. Bác ngư phủ, tượng trưng cho sự cứu thoát đã được thực hiện. Và sau cùng là các nhạc công, tượng trưng cho sứ mệnh đi loan báo Tin Mừng cho mọi người.
Nguyện xin Chúa Hài Đồng Giêsu, qua lời bầu cử của Mẹ Maria và Thánh Cả Giuse, ban cho mỗi người chúng ta một Lễ Giáng Sinh AN BÌNH, đầy PHÚC LÀNH và trào tràn NIỀM VUI SÂU THẲM của Chúa Hài Đồng Giêsu trong Đêm Hồng Phúc.
Nt. Maria Phạm Thị Hoa
Sưu tầm

2 thg 12, 2017

Truyền thuyết về những ác quỷ trong lễ Giáng sinh

(http://khoahoc.tv/truyền-thuyết-về-những-ác-quỷ-trong-lễ-giáng-sinh-50994)
Mụ phù thủy Frau Perchta, ác quỷ Krampus... là những sinh vật ma quỷ đáng sợ trong Giáng sinh.
Phong tục của nhiều nước trong dịp lễ Giáng sinh là luôn khuyến khích các em nhỏ làm việc tốt để có thể nhận quà từ ông già Noel. Bên cạnh đó, nó cũng có ý răn đe các em nhỏ rằng chúng sẽ phải nhận hình phạt vì hành vi xấu của mình.
Các nhân vật xuất hiện trong những câu chuyện kể Giáng sinh không chỉ có ông già Tuyết nhân hậu mà còn có cả những nhân vật phản diện - con ma quỷ luôn khiến trẻ em phải kinh sợ, trở nên ngoan ngoãn hơn. Những nhân vật phản diện này xuất hiện với nhiều cái tên, hình ảnh và ở các địa danh khác nhau...

1. Chú mèo Giáng sinh

Mèo Yule hay chú mèo Giáng sinh là một con quái vật xuất hiện trong văn hóa dân gian Iceland. Mèo Yule được miêu tả rất lớn và xấu xa, chúng hay ẩn nấp ở những vùng nông thôn đầy tuyết trong dịp lễ Giáng sinh và ăn thịt ai không có quần áo mới để mặc trước lễ Giáng sinh.
Theo phong tục của nhiều gia đình Iceland, người nào hoàn thành công việc đúng thời gian quy định sẽ được trả tiền để mua quần áo mới cho lễ Giáng sinh, còn những người lười biếng thì không.
Mèo Yule hay chú mèo Giáng sinh là một con quái vật xuất hiện trong văn hóa dân gian Iceland. Mèo Yule được miêu tả rất lớn và xấu xa, chúng hay ẩn nấp ở những vùng nông thôn đầy tuyết trong dịp lễ Giáng sinh và ăn thịt ai không có quần áo mới để mặc trước lễ Giáng sinh.
Để khuyến khích trẻ em làm việc chăm chỉ, cha mẹ thường kể câu chuyện về mèo Yule và nói rằng, Yule luôn biết đứa trẻ nào lười biếng để ăn thịt các em. Nỗi sợ bị mèo Yule ăn thịt được người dân Iceland coi như một động lực giúp nâng cao tinh thần, trách nhiệm trong công việc thu hoạch mùa vụ trước Giáng sinh.
Đồng thời, nó như một lời nhắc nhở trẻ em chăm chỉ phụ giúp cha mẹ để có nhiều quần áo mới. Vì thế, không mấy ngạc nhiên khi nhiều người ghi nhận cư dân Iceland luôn bỏ nhiều thời gian để làm việc hơn người châu Âu khác.

2. Mụ phù thủy Frau Perchta

Những câu chuyện kể ở Đức và Áo đã khắc họa chân dung của một phù thủy có tên là Frau Perchta. Bà là người có quyền "ban phát" những phần thưởng và cả sự trừng phạt trong vòng 12 ngày trong suốt dịp lễ Giáng sinh.
Frau Perchta còn được biết đến nhiều hơn với sở thích trừng phạt người gây ra tội lỗi bằng phương pháp quái đản. Đó là tách cơ quan nội tạng của họ ra ngoài cơ thể và thay thế chúng bằng rác.
Câu chuyện của Perchta được cho là có nguồn gốc từ một nữ thần huyền thoại Alpine - nữ thần của tự nhiên, người luôn ẩn mình trong rừng suốt cả năm và chỉ giao tiếp với con người trong dịp Giáng sinh. Nữ thần sẽ luôn quan sát mọi hành động của con người trong suốt một năm và trừng phạt ai gây ra nhiều tội lỗi trong dịp lễ Giáng sinh này.

3. Người quét ống khói Zwarte Piet

Zwarte Piet hoặc còn gọi là Peter đen là người phụ tá của ông già Noel trong các câu chuyện kể ở Hà Lan. Mặc dù không phải là quái vật nhưng ông là người sẽ trừng phạt những ai có thái độ xấu hay cư xử không tốt trong dịp lễ Giáng sinh.
Zwarte Piet hoặc còn gọi là Peter đen là người phụ tá của ông già Noel trong các câu chuyện kể ở Hà Lan. Mặc dù không phải là quái vật nhưng ông là người sẽ trừng phạt những ai có thái độ xấu hay cư xử không tốt trong dịp lễ Giáng sinh.
Nhiều tài liệu ghi lại cho rằng, vào khoảng thập niên 1850, các trẻ em không ngoan thường bị dọa, Zwarte Piet sẽ bắt cóc các em rời khỏi bố mẹ và đem qua đất nước Tây Ban Nha xa xôi. Ông được miêu tả với hình dạng to lớn cùng gương mặt đen kịt như than.
Bên cạnh đó, nhiều phiên bản khác kể rằng, ông là một người quét ống khói nên ông mới có một gương mặt đen kịt như vậy.

4. Ông già cau có Belsnickel

Belsnickel là nhân vật nam trong các câu chuyện truyền thuyết ở miền Tây Nam nước Đức. Vào khoảng thời gian 1 - 2 tuần trước lễ Giáng sinh, các Belsnickel thường xuất hiện trước các ngôi nhà và hù dọa trẻ em, đặc biệt là những đứa thích đùa nghịch và không nghe lời cha mẹ.
Ông thường ăn mặc rách rưới, dơ bẩn cùng vẻ mặt cau có, độc đoán. Trên tay ông lúc nào cũng cầm một cây gậy, cành cây khô như để sẵn sàng đánh những đứa trẻ hư.
Belsnickel là nhân vật nam trong các câu chuyện truyền thuyết ở miền Tây Nam nước Đức. Vào khoảng thời gian 1 - 2 tuần trước lễ Giáng sinh, các Belsnickel thường xuất hiện trước các ngôi nhà và hù dọa trẻ em, đặc biệt là những đứa thích đùa nghịch và không nghe lời cha mẹ.
Có những phiên bản khác kể rằng: để kiểm tra sự trung thực cũng như hành động của trẻ em, ông thường yêu cầu chúng hát hoặc trả lời câu hỏi. Nếu ngoan, ông sẽ ném kẹo xuống đất, còn gặp phải đứa trẻ hư, chúng sẽ không thoát khỏi cây gậy của ông.
Dù chúng không hề bị thương nhưng luôn cảm thấy sợ hãi và cố gắng trở nên ngoan ngoãn hơn để được nhận quà từ ông già Noel vào đêm Giáng sinh. Truyền thống những đứa trẻ cố gắng ngoan ngoãn, nghe lời cha mẹ này cũng tồn tại trong một vài khu vực khác ở Newfoundland (Canada) hay một số cộng đồng người Brazil ở bang Santa Catarina.

5. Ác quỷ Krampus

Krampus có nghĩa là “móng vuốt”, và loài sinh vật này được miêu tả có vẻ ngoài là một con ma quỷ. Sinh vật này có nguồn gốc trong văn hóa dân gian Đức
Krampus có nghĩa là “móng vuốt”, và loài sinh vật này được miêu tả có vẻ ngoài là một con ma quỷ. Sinh vật này có nguồn gốc trong văn hóa dân gian Đức, tuy nhiên, ảnh hưởng của nó đã lan rộng vượt xa biên giới Đức, sang tận Áo, Hungary, Slovenia...
Tuy nhiên, ảnh hưởng của nó đã lan rộng vượt xa biên giới Đức, sang tận Áo, Hungary, Slovenia...
Ác quỷ Krampus là bản sao đối lập với ông già Noel, có nhiệm vụ đánh và trừng phạt tất cả những đứa trẻ không ngoan. Khi phát hiện ra những đứa trẻ hư, Krampus sẽ bắt chúng bỏ vào trong túi và mang đến hang ổ của mình. Ở đó, ông sẽ đưa ra nhiều sự trừng phạt đáng sợ. Bởi vậy mà bất cứ đứa trẻ nào cũng sợ Krampus nên phải ngoan ngoãn hơn.